Tên gọi các cấu kiện nhà gỗ, quy cách kiến trúc cổ Việt Nam
Chào
các bạn, mình thấy trên internet rất ít các bài viết nào nói về tên gọi các cấu
kiện nhà gỗ trong kiến trúc cổ việt nam và có chăng cũng chỉ là một vài bài với
tên gọi đơn giản từ rất lâu và không đủ chi tiết. Vì vậy, hôm nay mình sẽ viết
1 bài viết để chia sẻ cùng tất cả các bạn, tất nhiên kiến thức về quy cách nhà
cổ có rất nhiều và nếu bài viết còn thiếu sót gì thì rất mong các bạn có thể
bình luận ở cuối bài viết để mình bổ sung. Mỗi một phần mình sẽ có ảnh minh họa
để các bạn có thể đọc được chi tiết hơn nhé.
Các lối nhà cổ truyền Việt Nam
Trước hết chúng ta sẽ phải chia ra xem cấu tạo của một nhà
bao gồm những loại nào và mình sẽ tạm thời phân loại ra như sau.
§
Nhà
kẻ truyền
§
Nhà
thuận
§
Nhà
rường
§
Nhà
quang đèn
Các kiểu kiến trúc trong nhà cổ truyền Việt Nam
Trong các kiểu nhà như thế này
thì trong quy cách kiến trúc cổ việt nam nhà truyền thống còn được làm theo các
kiểu kiến trúc sau:
§
Nhà
hai mái, 2 đầu bít đốc
§
Nhà
4 mái, 2 đầu hồi có 2 mái phụ, mỗi trái nhà có thêm 1 hàng cột quân và có thể
có thêm hàng cột hiên
§
Hình
thức nhà 8 mái (hay còn gọi là chồng diêm)
Các hình thức nhà cổ truyền, truyền
thống Việt Nam
Theo truyền thống của người việt
thì số gian của nhà được làm theo các số lẻ, cụ thể như sau:
§
Phương
đình: Bao gồm 1 gian chính giữa và bốn xung quanh hệ cột quân đẳng hướng.
§
Nhà
3 gian truyền thống
§
Nhà
5 gian hay còn gọi 3 gian 2 trái
§
Nhà
7 gian hay còn gọi là 5 gian 2 trái
§
Nhà
9 gian hay còn gọi là 7 gian 2 trái

Quy
cách cấu kiện nhà gỗ cổ truyền Việt Nam
Tuy rằng không thể minh họa hết
được tất cả các loại, các kiểu nhưng chúng tôi cũng sẽ đưa ra hình ảnh minh họa
để các bạn có thể tham khảo hết được tất cả các chi tiết trong 1 căn nhà gỗ
nhé.

Đây là một trong các loại vì mà phần trên câu đầu được chồng
rường và ở dưới sử dụng là các thanh kẻ ngồi. Tên gọi của các cấu kiện các bạn
có thể đọc trên bản vẽ và tôi sẽ chú thích ngay bên dưới đây.
Cột: Trong nhà gỗ có 3 loại cột đó chính là cột
cái, cột quân và cột hiên.
§
Cột cái: Được xác định là cột chính của nhà và các cột quân sẽ
có kích thước phụ thuộc vào cột cái. Số lượng cột cái tùy thuộc vào quy mô công
trình và thường là chỉ có 1 hàng cột cái và nhiều là 2 hàng.
§
Cột quân: (cột con) Các cột có kích thước nhỏ hơn cột cái và
được liên kết với cột cái bằng các xà nách, quá giang.
§
Cột hiên: Là loại cột có chiều cao thấp nhất và đặt bên ngoài
hiên phía trước của tam cấp để đỡ phần mái đua phía trước hiên.
Các loại xà: Xà chính là các thanh giằng theo
chiều ngang hoặc chiều dọc của nhà có nhiệm vụ chính là liên kết các cột với
nhau để tạo nên một khung cứng.
§
Xà thượng: Xà nằm gần trên đỉnh của cột cái liên kết các cột
cái với nhau
§
Xà hạ: Có vị trí nằm dưới xà thượng phía trên quá giang để
liên kết đối với các cột cái.
§
Xà cái: Trong một vài công trình thì phần xà hạ được làm là
xà cái với kích thước to hơn tất cả các xà khác và nằm trên quá giang liên kết
các cột cái.
§
Xà trung: Xà trung được sử dụng trong trường hợp không dùng xà
hạ và xà thượng và được đặt giữa xà thượng và xà hạ. Xà trung cũng có nhiệm vụ
liên kết các cột cái và nằm giữa câu đầu và quá giang.
§
Xà nách: Liên kết cột cái với cột quân trong khung nhà.
§
Xà tử thượng: Xà tử hạ là xà liên kết các cột quân và
nằm ở phía trên đầu của cột quân
§
Xà tử hạ: Được liên kết giữa các cột quân và có vị trí nằm dưới
xà tử hạ.
§
Xà hiên: Liên kết trên đầu các cột hiên
§
Xà ngưỡng: Xà ngưỡng liên kết dưới chân các cột quân và được đặt
dưới cửa, đối với xà ngưỡng cửa dùng để đỡ khuôn cửa đi vào.
Kẻ hiên và bẩy: Có khá nhiều bạn nhầm lẫn trong
việc phân biệt giữa kẻ và bẩy nên chúng tôi sẽ đưa ra khái niệm để các bạn có
thể phân biệt được luôn nhé. Sự khác biệt giữa bẩy và kẻ là kẻ có cột đỡ ở đầu
và bẩy thì không có mà thôi.
§
Kẻ hiên: Được liên kết từ cột quân tới cột hiên đỡ một phần
mái đua ra và tựa trên một phần đầu của cột hiên,
§
Bẩy:
Là một phần dầm đua ra để đỡ cho phần mái đua ra phía sau nhà hoặc 2 bên nhà và
không có cột đỡ một đầu. Đối với các công trình đình làng chùa với 3 mặt hiên
thoáng không có cột hiên nên được gọi là bẩy hiên.
§
Kẻ ngồi: Kẻ ngồi được liên kết giữa các cột cái và cột quân
trong khung và nằm phía trên quá giang.
Hoành và xà thế hoành: Có tác dụng giống như
xà và truyền tải toàn bộ trọng lượng của mái xuống các vì
§
Hoành: cũng là một trong các xà nằm cách đều, dàn trải
theo mái để đỡ rui mái và được kê lên vì.
§
Xà thế hoành: Có tác dụng giống các thanh xà và được
thay thế vị trí của hoành. Vị trí của xà thế hoành thường nằm trên đỉnh của cột
cái, cột quân.
Rui: Rui có kích thước khá mỏng với độ dày 10mm và
chiều rộng 100mm và chiều dài theo mái trước và mái sau, vị trí rui nằm đè lên
các thanh hoành và có khoảng cách thông thường là 100mm hoặc theo kích thước
của ngói màn. Trong một vài trường hợp thường có thể sử dụng rui chồng tức có
một phần rui đục chữ thọ thay thế cho phần ngói màn.
Mè: Mè là các thanh gỗ có độ dày mỏng 10mm và bản
rộng tùy thuộc được đặt song song với các thanh hoành, đè trên rui có tác dụng
liên kết và giữ rui. Thường thì vị trí đặt các thanh mè sẽ được giấu ở các
thanh hoành để khi nhìn từ trong nhà sẽ không bị lộ các thanh mè. Khoảng
cách các thanh mè không giống các thanh hoành mà nằm thưa hơn rất nhiều.
Ngói màn: Ngói màn được sử dụng trong nhà thờ họ thường
là ngói màn chữ thọ với kích thước 150x190mm và được đặt trên các lớp rui, xen
kẽ giữa các thanh rui để lộ phần chữ thọ. Và các viên ngói màn sẽ được hãm bởi
các thanh mè.
Ngói nhà cổ: Đối với nhà cổ có rất nhiều loại ngói
trong đó để lợp mái sẽ có ngói mũi, ngói lưu ly, ngói âm dương.
§
Ngói mũi: Ngói mũi có khá nhiều loại là ngói mũi ta hoặc ngói
mũi hài, ngói vẩy rồng và thường được sử dụng trong các công trình đền chùa,
dân gian và chủ yếu vẫn là các tỉnh miền bắc.
§
Ngói lưu ly: Ngói lưu ly thường được sử dụng để lợp
ngói trong các đình chùa và chúng ta sẽ bắt gặp nhiều nhất là các tỉnh miền
nam.
§
Ngói âm dương: Cũng giống như ngói lưu ly và ngói âm
dương này được phân phối chủ yếu vẫn là tại Bát Tràng. Các lợp chủ yếu vẫn là
viên úp viên ngửa.
Cái nóc: Hay còn được gọi là thượng lương là phần
đỡ bờ nóc và giao giữa 2 phần mái trước và mái sau. Cái nóc chạy dọc theo nhà
và có kích thước khá to để đỡ được các phần giao giữa hai mái. Tại cái nóc sẽ
được đục chạm trang trí và chủ yếu vẫn là ghi ngày tháng năm làm nhà.
Đấu vòi: Có vị trí nằm dưới cái nóc và trên con
lợn (rường bụng lợn)
Dép thượng lương: Có tác dụng để kê hay chèn
giữa vì và cái nóc, trong một vài trường hợp khi lên khung nhà không khớp thì
có thể sử dụng dép để kê cho khít.
Dép hoành: Tương tự như dép thượng lương để
kê giữa các thanh hoành với ván dong, rường…
Con lợn: Hay được gọi là rường bụng lợn là con
rường nằm trên cùng và trên đầu của cột trốn và có nhiệm vũ đỡ cái nóc.
Ván lá đề: Được giới hạn giữa rường bụng lợn, 2
cột trốn và câu đầu. Ván lá đề thường được trang trí bằng các hoa văn hay chữ
Thọ, chữ Phúc… Ván lá đề thường chỉ có trong các kiểu vì như kẻ truyền, chồng
rường, quang đèn.

Đây là phần bức thuận nhà gỗ mà tôi muốn chia sẻ tới các bạn,
đối với bức thuận này còn nhiều chi tiết tôi không biết nếu các bạn biết có thể
đóng góp cho mình nhé. Phần bản vẽ hơi đơn giản nên mong các bạn thông cảm.

Đây là một trong các vì điển hình của nhà rường với kết cấu
chủ yếu vẫn là các thanh rường, rường cụt xếp chồng lên nhau
Con rường, chồng rường: Là các đoạn gối mái được
xếp đè lên nhau và càng lên cao càng thu nhỏ theo chiều dốc của mái có nhiệm vụ
đỡ mái và thượng lương.
Rường cụt: Có vị trí nằm ở vì nách nằm giữa cột
cái và cột quân, trên xà nách đỡ hoành và thu dần theo độ dốc mái.
Trụ trốn: Nằm dưới rường bụng lợn, đỡ con
lợn và nằm trên câu đầu, phía dưới trụ trốn thường được đỡ hay trang trí bằng
đấu. Trụ trốn còn nằm ở vì nách. Phần thân của trụ trốn thường được đục trạm
chữ thọ, chữ phúc.
Cột trốn: Cột trốn là phần trên cùng của cột cái
và nằm trên quá giang, không có phần thân và phần đế. Dưới cột trôn có
thể là đấu cơm, đấu rế, đấu bát.

Tàu mái: là phần nằm trên đầu kẻ, đầu bẩy để đỡ
phần rui đua ra của mái, tàu mái chạy dọc theo mặt trước hoặc 2 mặt bên của
nhà. Phia trên tàu mái là phần lá mái
Lá mái: Nằm trên tàu mái đỡ phần rui đua ra
đỡ ngói
Then tàu: Liên kết giữa tàu mái với xà hiên
để giữ phần tàu mái không bị trôi.
Ván dong (ván rong): Nằm kê giữa kẻ và hoành, mục
đích của ván dong chính là truyền lực từ các thanh hoành tới vì. Ở ván dong
thường được đục trạm trang trí các hoa văn như tứ linh đối với chùa hoặc được
cách điệu đối với nhà ở bình thường. Tại các tỉnh miền nam thì được trang trí
bằng các loại hoa hoặc loại quả.
Đầu dư: phần thừa ra của kẻ hoặc bẩy, kẻ ngồi
liên kết vào cột quân hoặc cột cái và để giữ các thanh kẻ, thanh bẩy. Ngoài ra
còn một vài tên gọi khác như dái kẻ, dái bẩy
Con triện: Con triện thường được trang trí
tại 2 cánh phong hoặc trên đỉnh nóc
Bờ nóc: Là phần trên cùng của mái được xây gạch và
đắp xi măng và phía trên bờ nóc được đặt và trang trí các con vật trong tứ linh
đối với chùa hoặc con kìm, cá sấu… đối với nhà ở.
Gạch hoa tranh: Gạch hoa tranh được sản xuất tại
các lò gốm hoặc viglacera và được đặt tại bờ nóc.
Nội dung bổ sung thêm về quy cách nhà cổ
Ngày bổ sung: 21.8.2019
Xin chào, đoạn dưới đây là mình bổ sung thêm 1 mặt cắt của 1
bộ vì của nhà thờ họ 2 tầng 8 mái hay còn gọi là nhà cổ diêm. Trong phần mặt
cắt này có thêm khá nhiều chi tiết mà mình nghĩ là rất cần thiết cho các bạn
cùng tham khảo. Nếu nói về kiến thức nhà cổ thì mỗi nơi có một tên gọi khác
nhau cho nên các bạn cũng không nên tranh luận quá nhiều làm gì. Trong bài viết
có gì sai xót rất mong các bạn chỉ cho mình để mình sửa lại nhé.

Các bạn có thể nhìn thấy khá nhiều các chi tiết nhưng về cơ
bản không có nhiều thay đổi. Tuy nhiên ý mình muốn bổ sung để các bạn có cái
nhìn khác hoặc gặp trường hợp nhà cổ diêm thế này chúng ta sẽ dễ hình dung và
dễ hiểu hơn.
Nội dung bài viết còn hạn hẹp, có gì sai xót rất mong các bạn
bổ sung giúp. Cám ơn các bạn!
Nội dung bổ sung ngày: 6.9.2019
Thực ra hầu hết các quy cách cấu kiện nhà cổ đều gần như
giống nhau, chỉ khác nhau ở chỗ là tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng của gia chủ
chúng ta sẽ vẽ thêm mà thôi. Trong phần này chúng tôi xin bổ sung thêm một vài
chi tiết mới để các bạn có thể tham khảo rõ hơn nhé.

Trong phần vì đầu hồi này có thêm một vài chi tiết tôi sẽ bổ
sung thêm cho các bạn, các bạn có thể tải ảnh về để xem chi tiết hơn nhé. Các
chi tiết bổ sung thêm như sau:
§
Ván
thưng cao 240 dày 60
§
Xà
lòng: giống như xà hạ nhé
§
Ô
thoáng, con tiện, tam sơn
§
Đố
măng + Triện 1930x325x100
§
Ván
chạm 4: 400x265x80
§
Xà
chặn: 80x150x1950
